Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Z7771289769442_63d1cd87ba97944ee69c5d0011bbedaf.jpg Z7761037533419_a74a5ddd9348dcbc4b3b5782cd30ffb2.jpg 673823825_1265261429029634_177458693063964266_n.jpg 675140343_1265261952362915_3111616795877239702_n.jpg Z7647247852238_6b391fc640628f1a2f07e9f471f554ba.jpg Z7663794041207_c15c4f4e29b01bea007b840d78b9b333.jpg La_co.jpg Z7102087836890_f8e50692dde5e16477fac60a839134d7.jpg Z7026534528133_1f979749ff05a5368c1cd503912ae325.jpg Cham_bai_dai_su_van_hoa_doc.jpg Z6134112707897_4bf42be51aba6325e3912aa37108f929.jpg Z6055053987741_c41b5d451de28c062306530a088e6385.jpg Z6055052423568_9207f7d4631d72cd8aaeba77bdf93009.jpg Z6055051467820_730007944e98c3365d285541324e6f6a.jpg Z6055021056675_e8c2309497085334fdaa7b5060fca3ba.jpg Z6055021052838_e88eac9b0d612ae99683838dec21187f.jpg Z6055021039531_80d9a33f26be63c019a277014190ad92.jpg

GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 11

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 15

    BẢN TIN SÁCH

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Cuộc thi Sân khấu hoá tác phẩm văn học

    Cuộc thi sân khấu hoá tác phẩm văn học - tác phẩm Chiếc lược ngà

    Tuyên truyền về Ngày sách và văn hoá đọc Việt Nam

    Cuộc đời của Pi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Thơi
    Ngày gửi: 22h:32' 19-07-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Cuộc đời của Pi
    -Yann MartelEbook miễn phí tại : www.SachMoi.net
    Mục Lục
    Phần 1 : Toronto và Pondicherry
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
    Chương 11
    Chương 12
    Chương 13
    Chương 14
    Chương 15
    Chương 16
    Chương 17
    Chương 18
    Chương 19
    Chương 20
    Chương 21
    Chương 22
    Chương 23
    Chương 24
    Chương 25
    Chương 26
    Chương 27
    Chương 28
    Chương 29
    Chương 30
    Chương 31
    Chương 32
    Chương 33
    Chương 34
    Chương 35
    Chương 36

    Phần 2 : Thái Bình Dương
    Chương 37
    Chương 38
    Chương 39
    Chương 40
    Chương 41
    Chương 42
    Chương 43
    Chương 44
    Chương 45
    Chương 46
    Chương 47
    Chương 48
    Chương 49
    Chương 50
    Chương 51
    Chương 52
    Chương 53
    Chương 54
    Chương 55
    Chương 56
    Chương 57
    Chương 58
    Chương 59
    Chương 60
    Chương 61
    Chương 62
    Chương 63
    Chương 64
    Chương 65
    Chương 66
    Chương 67
    Chương 68
    Chương 69
    Chương 70
    Chương 71
    Chương 72
    Chương 73
    Chương 74
    Chương 75
    Chương 76
    Chương 77
    Chương 78

    Chương 80
    Chương 81
    Chương 82
    Chương 83
    Chương 84
    Chương 85
    Chương 86
    Chương 87
    Chương 88
    Chương 89
    Chương 90
    Chương 91
    Chương 92
    Chương 93
    Chương 94
    Phần 3 : Trạm xá Benôt Juarez, Tomatlan, Mexico
    Chương 95
    Chương 96
    Chương 97
    Chương 98
    Chương 99
    Chương 100

    Phần 1 : Toronto và Pondicherry
    Cuốn sách này được Yann Martel viết vào năm 1996 và được tặng giải thưởng Man Booker 2002.
    Ông sinh ra ở Tây Ba Nha nhưng hiện đang sống tại Motreal, Canada.
    "Cuốn sách là một câu chuyện hiện thực sống động về sự sống sót giữa biển khơi. Một mặt là
    chuyện thám hiểm, một minh chứng về việc hoàn cảnh cùng quẫn làm thay đổi con người như thế nào.
    Mặt khác là sự suy ngẫm sâu xa về vai trò của tôn giáo trong đời sống, về bản chất của động vật, thiên
    nhiên và con người. Ngôn ngữ của ông sống động và ấn tượng. Trí tưởng tượng rộng lớn, khả năng
    thuyết phục gần như không giới hạn. Yann Martel sẽ trở thành một trong những nhà văn Canada vĩ đại
    nhất" (The Hamilton Spectator).
    Ghi Chú Của Tác Giả
    Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm 1996, cuốn thứ hai của tôi, một cuốn tiểu
    thuyết ra mắt bạn đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng túng, hoặc kết án tử hình
    nó bằng những lời khen nhạt nhẽo. Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón nghề và nhào lộn trong
    rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì. Cuốn sách không nhúc nhích được tí nào.
    Sách xếp trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn
    sách của tôi là thằng nhóc oặt oẹo và không ai muốn lấy vào đội của mình. Nó im lìm và nhanh chóng
    biến mất.
    Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi lại bắt tay vào viết một cuốn khác, một
    tiểu thuyết có khung cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt rứt không yên. Vả

    lại vẫn còn ít tiền.
    Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất bất
    cứ sinh linh nào nếu muốn hết bồn chồn thì cứ đến ấn Độ và làm một việc gì đó trong một thời gian
    nhất định, thứ hai: ở đó có thể sống dài dài với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một tiếu thuyết có
    khung cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì đên Bồ Đào Nha thời 1939.
    Trước đó tôi đã từng ở ấn Độ, miền Bắc, năm tháng trời. Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì cho
    chuyến đi đầu tiên ấy đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị có một chữ thôi. Khi tôi hàn huyên
    về các dự định cho chuyến đi với một người bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta thủng thẳng nói, “ở ấn
    Độ người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ chẳng hạn như là bamboozle. “Tôi
    nhớ đến câu nói ấy của anh ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để hạ cánh xuống Dehli, và từ
    bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái thể giới điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt nhưng vần
    đâu ra đấy của ấn Độ. Tôi đã có dịp dùngđến cái từ ấy, và nói thực tình, nói cũngđắc lực. Tôi bảo một
    thấy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá vé đắt đến thế kia à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ? Thầy
    ký mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa ngài! Không có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả.
    Chúng tôi nói đúng giá vé đấy ạ.”
    Lần thứ hai đi ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ yên
    vị ở một đồn điền trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng rõ ràng mình đang ngồi
    ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một tách trà nghi ngút. Những
    triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới chân, và tiếng kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp
    đầy màng nhĩ tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo len mỏng nhẹ vào buổi sớm mai và
    chiều tà, còn cả ngày có thể mặc một cái gì đó ngắn tay. Và trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý
    lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác phẩm hư cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến
    đổi hiện thực một cách có chọn lọc, đúng không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực để vắt lấy cái cốt lõi
    của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi có cần gì phải đi Bổ Đào Nha đúng chưa nào?
    Bà chủ đồn điền sẽ kể tôi nghe những câu chuyện về cuộc đấu tranh đánh đuổi người Anh. Chúng
    tôi sẽ chọn món cho bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết, tôi sẽ đi dạo trên
    các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.
    Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn. Lúc
    đó tôi đang ở Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại ở trung du, cũng có vài chú khỉ
    nhưng không có vườn chè nào. Đối với các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự khốn khổ. Bạn
    có chủ đề tốt, câu chữ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn dựng lên thật sống động đến mức muốn đi
    xin giấy khai sinh cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã vạch ra hết cả, thật lớn lao,
    giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn hòi đâu ra đấy, thu thập đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội,
    khí hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối
    nhau thật tự nhiên, lấp lánh, căng thẳng. Những đoạn miêu tả bùng lên đầy màu sắc, tương phản và các
    chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất
    cả những cái đó chẳng hợp thành một cái gì cả. Mặc cho những hứa hẹn sáng lạn và hiển nhiên của câu
    chuyện, sẽ đến lúc bạn chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn luôn thôi thúc bạn viết nó ra bấy lâu nay
    lại rót vào tai bạn một sự thật rõ ràng và khủng khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái
    tia lửa có khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ liệu lịch sự hoặc ẩm thực của
    bạn đúng hay là sai. Câu chuyện của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của vấn
    đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một thảm hoạ tàn hại linh hồn, tôi phải nói với bạn
    như vậy. Khi tỉnh lại, mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đó, đến thắt ruột thắt gan.
    Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn tiểu thuyết không thành ấy vào phong bì.
    Tôi gửi chúng đến một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng hư cấu và quẳng cái

    phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức. “Sẽ ra sao đây hở
    Tolstoy?”, tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác cho cuộc đời của mày không?”
    Gì thì gì, vẫn còn một ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi nhà
    bưu điện và quyết định đi thám hiểm miền Nam ấn Độ.
    Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời: “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi lúc ấy,
    bác sĩ là những người phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua khỏi chỗ quành
    trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn, và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của nạn nhân và các cặp
    mắt sẽ dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị đốc tờ của tôi không phải là bác
    sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp họ kiện chính phủ về vụ tai nạn,
    tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự chỉ là cử nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ
    gào thét đòi biết cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý nghĩa gì không, và tôi sẽ phải thú nhận rằng tôi
    chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân và vân vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn,
    một sự thật tím bầm và tủi hổ.
    Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái danh phận nhà văn ấy. Họ bảo: “Một
    nhà văn ư? Thật chứ? Tôi có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện đó chỉ nhỉnh
    hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi, thiếu sức sống.
    Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong Liên hiệp Anh về phía nam Madras,
    ngay trên bờ biển Tamil Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất không có nghĩa lí
    gì của ấn Độ (so về diện tích thì đảo Price Edward là một lãnh thổ khổng lồ của Canada), nhưng lịch
    sử đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ của lãnh thổ ấn Độ thuộc Pháp, cho
    dù lãnh thổ này chỉ là một bộ phận khiêm tốn nhất trong các vương quốc thuộc địa ngày xưa. Người
    Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người Anh, muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật
    mãi mới chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm các hải cảng nho nhỏ. Họ bám vào những hai cảng
    này trong gần ba trăm năm. Họ rời Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những toà nhà trắng xinh xắn,
    những đường phố rộng chạy vuông góc với nhau, những tên phố như rue de la Marinne, và Saint
    Louis, và danh từ kepis, chỉ loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.
    Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House, phố Nehru. Một gian phòng rộng, tường
    màu xanh lá cây, trần cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí ẩm ướt. Quán kê
    chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được chỗ nào thì ngồi,
    chung bàn với người nào thì chịu người ấy. Cà phê thì ngon, lại có bán cả bánh mì nướng giòn. Rất dễ
    bắt chuyện. Và thế là, một ông già quắc thước mắt sáng với những lọn tóc trắng phau đang nói chuyện
    với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng Canada đúng là lạnh, rằng có những vùng đúng là nói tiếng
    Pháp, và rằng tôi đúng là thích ấn Độ, vân vân và vân vân - một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy
    giữa những người bản xứ tò mò hiếu khách với dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi nói là nhà văn, ông
    già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi. Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn
    ra tính tiền.
    Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến anh tin vào Thượng đế.”
    Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại là dòng Thánh Chứng(1) đang gõ cửa?
    Tôi hỏi: “Chuyện của cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương quốc La Mã phải
    không ạ?”
    “Không."
    “Biết đâu ông lão lại là người rao giảng đạo Hồi. “Thế có xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII
    không ạ?”
    “Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry này mới vài năm trước đây, và kết thúc,
    tôi xin nói để ông hay, ở ngay chính quê hương của ông.”

    “Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”
    “Đúng như vậy.”
    “Thế thì cao cấp quá.”
    ”Không cao đến nỗi ông không với tới được.”
    Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự giới
    thiệu làm quen nhau. Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói. “Nào, cụ làm ơn kể câu chuyện đó
    đi.”
    “Anh phải thật chú ý nghe mới được,” ông lão trả lời.
    “Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.
    “Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông lão hỏi.
    “Tôi vừa mới tới đó hôm qua.”
    “Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”
    “Dạ có.”
    “Hiện vẫn còn một tàu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con đi chơi. Nhưng trước đây ngày nào
    cũng có tàu chạy, mỗi giờ hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”
    “Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn hồng.”
    “Đúng rồi. Thế còn trạm kia.”
    “Tôi không nhớ.”
    “Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm đỗ:
    Roseville và Zootown. Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo Pondicherry.”
    Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh phải nói chuyện với cậu ấy,” ông lão
    bảo tôi, về nhân vật chính. “Tôi biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải hỏi chuyện cậu ấy,
    với tất cả các thắc mắc của anh.”
    Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ mang họ Patel trong danh bạ điện thoại, tôi
    đã tìm ra người ấy, nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi quay số phone của anh
    ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn nghe được âm sắc ấn Độ, nhẹ thôi nhưng không thể lẫn vào
    đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí. “Chuyện đã lâu lắm rồi,” anh nói. Nhưng rồi
    anh vẫn đồng ý gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho tôi xem cuốn nhật ký anh viết trong thời
    gian xảy ra các sự kiện của câu chuyện. Anh cho tôi xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã có lúc
    khiến anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ nhạt. Anh kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi
    thì ghi chép. Gần một năm sau, khó khăn mãi tôi mới nhận đựơc một cuốn băng ghi âm và một bản
    tường trình của Bộ Giao thông vận tải Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy
    đồng ý với ông lão Adirubasamy rằng quả thực đây là câu chuyện sẽ khiến cho bạn đọc phải tin vào
    Thượng đế.
    Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức là
    bằng chính lời kể của ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lệch hoặc nhầm lẫn sẽ
    hoàn toàn là lỗi ở tôi.
    Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên. Lòng
    biết ơn của tôi đối với ông mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng việc tôi kể lại câu
    chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng. Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt tôi và câu
    chuyện này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải cảm ơn ba vị quan chức có
    phẩm chất chuyên nghiệp mẫu mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm đại sứ quán Nhật ở
    Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và đặc biệt là ông Tomohiro Okamoto,
    thuộc Bộ giao thông vận tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa thổi được sự sống vào cuốn
    tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar(2). Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của

    tôi đến với cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng bảo trợ nghệ thuật Canada, vì nếu không thể chắp nối
    được câu chuyện này, vốn chẳng dính dáng gì đến Bồ Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta, những công
    dân, không hỗ trợ các nghệ sỹ, thì chúng ta sẽ giết trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện
    thực thô thiển để rồi chỉ biết qua ngày đoạn tháng, không biết tin vào cái gì, với rặt nhưng giấc mơ vô
    giá trị.
    ---------------------------------------------------------Ghi chú:
    (1) Thánh chứng: Tạm dịch chữ Jehova's Witness, tên một dòng đạo Thiên Chúa, chuyên tâm phổ
    biến tín ngưỡng này dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng kiến của Chúa Jesus.
    (ND)
    (2) Nhà văn Brazin đương đại, sống và làm việc ờ Porto Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio Grande do
    Sul, miền nam Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có những tiểu thuyết nồi tiếng
    như Đội quân một người, Con Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu thế giả hiệu, Vũ hội
    của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do Thái – Nga di cư sang Brazil từ cuối thế kỷ
    trước, từ những năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu thuyết và là đại biểu xuất sắc của
    dòng văn học Do Thái – Brazil hiện nay. (ND)

    Chương 1
    Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.
    Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín ngưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở
    lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì lạ. Tôi học chương
    trình phổ thông trung học trong một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong
    chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn nam thứ tư về tôn giáo của tôi
    đề cập đến một số phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hoá của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist (1)
    vĩ đại hồi thế kỉ 16 ở Safed. Luận văn động vật học của tôi là một nghiên cứu phân tích chức năng
    tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài cu li bởi tính cách khiêm nhường của nó - bình
    thản, im lặng và hướng nội - hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi.
    Có loài cu li hai móng và có loài culi ba móng , phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau
    của tất cả culi đều có ba móng. Tôu có một may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba móng ngay
    tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con vật này quả thật là
    một sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhất của nó là thói vô vi. Nó ngủ hoặc nghĩ ngơi trung bình
    hai mươi tiếng một ngày. Độ nghiên cứu của chúng tôi đã thí nghiệm theo dõi nếp ngủ của năm con
    culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau khi chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa
    nhựa màu đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng hôm sau, những cái đĩa này vẫn y nguyên, đầy nước và
    đầy các loại côn trùng vùng vẫy trong đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặn, với nghiã
    thoải mái nhất của từ bận rộn. Nó bò dọc cành cây trong tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng
    bốn trăm mét một giờ. Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc độ hai trăm hai mươi mét
    một giờ nếu có lý do chính đáng, bốn trăm bốn muơi lần chậm hơn tốc độ duy chuyển có lí do của loài
    báo cheetah. Còn nếu ko có lí do gì, mỗi giờ chúng chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.
    Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới chung quanh nó. Có thang điểm từ hai đến mười,
    hai là mức độ lờ mờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả Beebe (1926) đã đánh giá

    giác quan của lưỡi, da, mắt và tai của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ỡ mức ba. Nếu ta gặp một con
    culi đang ngủ trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái, nó sẽ tỉnh dậy, và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ
    nhìn quanh, nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại sao nó lại có thói quen nhìn quanh như
    thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì thì cũng như một vệt nhoè nhoẹt mà thôi. Về nghe loài culi cũng ko
    đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe. Tác giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang
    ăn mà ta có gí súng bắn ngay bên cạnh thì nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà thôi. Và ta cũng ko nên đánh
    giá quá mức cái khả năng ngửi được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả năng đánh
    hơi thấy và tránh các cây mục, nhưng tác giả Bullock (1968) lại tường trình rằng ông "thường xuyên"
    thấy các con culi ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục mà nó đã bò lên.
    Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.
    Chình là nhờ sự chạm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê ngủ mệt của culi đã giữ cho chúng không bị
    xa vào vòng nguy hiểm, không rơi vào tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ. Lông culi là nơi cư
    trú của một loại tảo có màu nâu trong mùa khô và màu xanh lá cây trong mùa mưa, giúp cho nó lẫn lộn
    vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc chỉ như một phần sần sùi của một cái
    cây.
    Con culi ba móng sống cuộc đời chay tịnh, yên bình trong sự hài hoà hoàn hảo với môi trường .
    "Với một nụ cười tốt lành thường trực trên môi", tác giả Tirler (1966) đã viết như vậy. Tôi đã tận mất
    thấy nụ cười ấy. Tôi ko có tính thích gán cho loài vật những tính cách và tình cảm của con người,
    nhưng đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn những con culi đang trong tư thế
    nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như mình đứng truớc những đạo sĩ yoga ở tư thế lộn ngược đang chìm sâu
    trong suy tưởng, hoặc những ẩn sĩ đang nguyện cầu khẩn thiết, những đấng hiền triết có cuộc sống bay
    bổng đầy những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò dẫm kiểu khoa học của tôi không thể nào vươn tới
    được.
    Đôi khi tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn học với tôi trong môn nghiên cứu tôn
    giáo - những kẻ theo thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là dưới, luôn ghê tởm lý
    lẽ vốn là vàng ròng của những người thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi ba móng; còn con
    culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì lại khiến tôi nghĩ tới Thương Đế.
    Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các dồng nghiệp khoa học. Các khoa học gia là một đám người
    thân thiện, vô thần, chăm chỉ, thích rượu bia vá luc không bận bịu với khoa học thì họ chỉ quan tâm
    đến tình dục, cờ vua và bóng chày.
    Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng bốn
    năm liền. Tôi dành được tất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật học. Nếu như tôi
    không giành được phần thưởng nào của khoa nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giản là khoa này chẳng có
    một phần thưởng nào dành cho sinh viên ( Chúng ta đều biết rằng các phần thưởng cho việc nghiên
    cứu tín ngưỡng ko nằm trong tay đám phàm phu tục tử như chúng ta :D) Cón tấm Huân chương Học
    Thuật cua ngài Tổng đốc, phần thưởng cao quí nhất của Đại học Toronto cho sinh viên phần lớn chỉ
    dành cho các công dân Canada xuất sắc; nếu ko vì cái thằng cu ấy, da trắng hồng, an thịt bò, cổ to như
    gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó chịu, thì tôi đã dành được nó rồi.
    Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi người ta đã chịu nhiều đau đớn ở đời,
    mỗi một nỗi đau mới sẽ vừa nặng trĩu mà cũng lại chẳng là gì....
    Cuộc đời tôi cũng giống như một bức tranh mementomori (2) troong nghệ thuật Châu Âu: lúc nào
    cũng có một chiếc đầu lâu nhe răng cuời bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du của ham muốn
    nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn nó và bảo: " Mày chọn nhầm đối tượng rồi. Mày có
    quyền ko tin vào cuộc đời, nhưng tao lại ko tin vào sự chết. Đi chỗ khác!". Chiếc đầu lâu nhúc nhắc
    rồi nhích lại gần hơn nhưng tôi chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ bám riết lấy sự sống như vậy ko

    phải là vì nhu cầu sinh học - đó là sự ghen tị. Sự sống đẹp đến nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối
    tình tư vị đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất cứ thứ gì nó có thể động đến. Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ
    qua, mất mát vài thứ chẳng gì đáng kể, và nỗi u buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu trắng hồng
    lại được thưởng cả học bổng Rhodes. Tôi yêu hắn và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại
    Oxford. Nếu như Lakshmi, nữ thần tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân sủng của người thì
    Oxford sẽ đứng thứ năm trong danh sách các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau
    Mecca, Varanasi, Jerusalem và Paris.
    Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một nhận xét rằng cà-vạt là một cái thòng
    lọng, và mặc dù lộn ngược, nó sẽ treo cổ nguời ta đến chết nếu ko thận trọng.
    Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của ấn Độ, nhớ các món ăn, bọn thằn lằn bò trên tường nhà,
    phim kịch hát trên truyền hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ đến cả những
    cuộc bàn tán về các trận đấu cricket (3), nhưng tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại tuy có hơi quá lạnh
    đối với người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh hăng hái, nhưng đầu tóc để ko
    được đẹp. Dù sao Pondicherry chẳng còn có cái gì để tôi muốn quay về.
    Richard Parker vẫn ỡ bên tôi. Chưa khi nào tôi quên được nó. Có dám nói tôi nhớ nó hay ko ư?
    Có đấy. Tôi có nhớ nó. Vẫn thấy nó trong các giấc mơ. Phần lớn là ác mộng nhưng là ác mông nhuốm
    màu tình yêu. Lòng nguời thật lạ. Tôi vẫn ko thễ hiểu nổi tại sao nó có thể bỏ tôi đi một cách dửng
    dưng như thế, không một cử chỉ chia tay nào, ko hề ngoái lại lấy một lần. Nỗi đau như thể ai cầm rìu
    mà bổ vào tận tim vậy.
    Các bác sĩ và hộ lý trong bệnh viện tại Mexico thật tốt với tôi hết chỗ nói. Cả các bệnh nhân cũng
    vậy. Bệnh nhân ung thư và nạn nhân tai nạn xe cộ, một khi đã nghe câu chuyện của tôi, họ chống nạng
    và lăn xe đến thăm tôi, họ và gia đình họ, mặc dầu ko ai nói tiếng Anh, còn tôi thì ko biết tiếng Tây Ba
    Nha. Họ mỉm cười với tôi, bắt tay tôi, vỗ về lên đầu tôi, để các món quà, thức ăn và quần áo lại trên
    giường tôi. Họ khiến tôi rơi vào những trận khóc trận cười ko thễ ghìm lại được.
    Chỉ trong vòng một ngày là tôi đã đứng lên được, thậm chí còn đi được một hai bưóc, mặc dù vẫn
    buồn nôn, chóng mặt và mệt mỏi toàn thân. Xét nghiệm máu cho thấy tôi thiếu hồng cầu nghiêm trọng,
    lượng muối thì cao mà kiềm thì thấp. Cơ thể tôi bị đọng dịch, hai chân phù ghê gớm. Trông tôi như
    một anh bị ghép đôi chân voi vậy. Nước giải thì đục, vàng sẫm gần nhu nâu. Thế mà sau đó độ 1 tuần,
    tôi đã có thể đi lại bình thường, và có thể đi giày nếu không buộc giây. Da dẻ tôi lành trở lại, mặc dù
    có sẹo ở vai và lưng.
    Lần đầu tiên tôi vặn được vòi máy nước , dòng nước phụt ra thật ầm ĩ, phí phạm và xả láng đến
    nỗi tôi bị choáng, ngã ngất vào tay người hộ lý.
    Lần đầu tôi đến một quán ăn ấn Độ ở Canada, tôi bốc thức ăn bằng tay. Người hầu bàn nhìn tôi
    một cách nghiêm nghị và nói: " Vừa đưới tàu mới lên phải không?". Tôi tái người. Những ngón tay tôi,
    một giây truớc đó còn như những búp vị giác đang thưởng thức món ăn trước khi đưa chúng vào
    miệng, đột nhiên thành ra thật bẩn thỉu dưới ánh mắt của anh ta. Chúng cứng đơ lại như những kẻ tội
    phạm bị bắt quả tang. Tôi không dám liếm chúng, tôi lau chúng bằng giấy ăn như một kẻ có lỗi. Anh
    hầu bàn ko thể biết câu nói của anh ta đã cứa những vết thương vào lòng tôi sâu đến thế nào. Chúng
    như những cái đanh nhọn đóng ngập vào ngực tôi. Tôi nhặt con dao và cái dĩa. Tôi thực sự ko nhớ
    mình đã từng dùng những thứ đó bao giờ chưa. Hai bàn tay tôi run bắn. Dịch vị tôi khô kiệt.
    ------------------------------------------------------------------(1)Kabala hoặc Cabala: hệ thống lý thuyết thần học bí truyền do các thầy cả Do Thái (rabbi) phát
    triền và lên tới đỉnh điểm trong các thế kỉ 12,13 có ảnh hưởng phần nào đến tư tưởng của một số triết
    gia Cơ Đốc giáo thời trung cổ và phục hưng. Cốt lõi của Cabala là phương pháp diển giải kinh sách
    rất bí hiểm mà các tín đồ tin rằng giúp họ thâm nhập các bí mật thiêng liêng. Người theo thần học

    Cabala tin rằng muôn vật đều là biến hình của Thượng Đế và Linh hồn đã tồn tại từ cõi vô cùng. (ND)
    (2)Memento mori: tiếng Latin, nghĩa là "nhắc ta nhớ đến cái chết" (ND)
    (3) Cricket: Môn thể thao ngoài trời gần giống như môn bóng chày ờ Mỹ, rất phổ biến ở ấn Độ
    (ND).

    Chương 2
    Anh sống ở Scarborough. Một người nhỏ nhắn, mảnh mai, cao không quá một thước sáu. Tóc đen,
    mắt đen. Bắt đầu hoa râm hai bên thái dương. Trông không thể quá 40. Nước da màu cafe dễ chịu.
    Mới vào tiết thu đã khoác áo choàng mùa đông có mũ chùm lót lông để đi ăn tối. Gương mặt biểu
    cảm. Nói nhanh, hai tay hơu theo lời. Không chuyện vặt. Đã vào chuyện là kể liền.

    Chương 3
    Tên tôi là tên một cái bể bơi, cũng là chuyện lạ vì cha mẹ tôi chẳng bơi lội bao giờ. Một torng
    những người có công chuyện sớm nhất với ba tôi là ông Francis Adirubasamy. Ông trở thành người
    bạn tốt của gia đình. Tôi gọi ông là Mamaji. Tiếng Tamil, mama nghĩa là bác, còn ji là vĩ đại hay
    dùng ở ấn Độ để biểu lộ lòng yêu mến và kính trọng. Khi ông còn trẻ nghĩa là rất lâu trước khi tôi ra
    đời, Mamaji là quán quân bơi lội của toàn vùng Nam ấn. Cả đời trông ông lúc nào cũng ra một nhà
    quán quân. Anh Ravi của tôi có lần bảo rằng khi Mamaji, ông ấy vẫn đòi tiếp tục thở trong nước đến
    nỗi bác sĩ, để cứu sống ông, đã phải túm lấy hai chân thằng bé rồi quay tròn trên đầu mình một lúc.
    "Như thế này này!" Ravi nói, tay quay tít trên đầu. "Thằng bé ho sặc hết nước ra và bắt đầu thở
    không khí, nhưng máu thịt nó bị quay dồn hết lên phần trên của cơ thể, nên ngực nó mới đầy thế và
    chân nó mới khẳng khiu thế".
    Tôi tin Ravi. (Anh Ravi là tên trêu người lưỡi nhọn. Lần anh gọi Mamaji là " Ông Cả" ngay vào
    mặt tôi, tôi đã vứt vỏ chuối vào giường anh.) Ngay ở tuổi sáu mươi, khi Mamaji đã hơi còng và thịt
    ông đã hơi bị trọng lực kéo xuống dưới, ông vẫn hàng sáng bơi đủ 30 lần chiều dài của bể bơi
    Aurobindo Ashram (1)
    Ông cố dạy cha mẹ tôi bơi, nhưng chẳng bao giờ cha mẹ tiến bộ quá mức lội xuống nước đến đầu
    gối ở bãi biển và làm các động tác khoát tròn. Nếu cha mẹ tôi đang tập bơi ếch chẳng hạn, thì trông
    như họ đang đi trong rừng, vừa đi vừa lấy tay vạch cỏ trước mặt. Còn nếu cha mẹ tập bơi sải thì trông
    như họ đang chạy từ trên đồii xuống và cứ phải vung tay cho khỏi ngã. Anh Ravi thì cũng kém hăng hái
    chẳng thua gì thế.
    Mamaji phải đợi đến khi tôi xuất hiện để có thể có được một môn đệ hăng hái. Ngày tôi đến tuổi
    bơi lội, tức là lên 7, theo tuyên bố của Mamaji và khiến mẹ tôi phát phiền, ông đem tôi xuống bãi
    biển, khoát tay về phía chân trời và nói: "Đây là món quà của ta cho con."
    "Rồi ông ấy suýt để con chết đuối". Mẹ tôi bảo vậy.
    Tôi vẫn trung thành với thủy sư phụ của mình. Dưới con mắt canh chừng của ông, tôi nằm trên bãi
    biển, quẫy chân, quạt tay trên cát, đầu quay bên này bên kia để thở theo mỗi động tác. Chắc hẳn trông
    tôi như một thằng nhóc đang làm mình làm mẩy một cách chậm chạp rất lạ. Dưới nước, ông giữ cho
    tôi nổi và tôi hết sức bơi. Khó hơn nhiều so với tập trên cạn. Nhưng Mamaji kiên trì và đầy khích lệ.
    Khi ông thấy tôi tiến bộ rồi, chúng tôi bắt đầu chấm dứt những cuộc chạy nhảy nô rỡn với những

    làn sóng xanh biếc sủi bọt của bờ biển và bắt đầu việc luyện tập qui củ (và phải trả tiền) trong cái
    phẳng phiu nghiêm túc của hồ bơi cư xá.
    Mỗi tuần ba lần, vào Thứ Hai, Thứ Tư và Thứ Sáu, trong suốt những năm thơ ấu, tôi đãđi với ông
    đến bể bơi vào sáng sớm và thực hiện một thứ nghi lễ chính xác và đều đặn như một cỗ máy đồng hồ
    của bài luyện tập bơi sải. TÔi còn nhớ như in hình ảnh sinh động của ông già đáng kính đang bắt đầu
    khoả thân bên cạnh tôi, cơ thể ông lô ra dần, và cuối cùng chỉ hơi quay đi để giữ thể diện với bộ quần
    bơi của vận động viên chính cống nhập khẩu đẹp tuyệt. Ông đứng thẳng người trong tư thế sẵn sàng.
    Hình ảnh ấy thật giản dị và hùng tráng. Học bơi, rồi tập bơi, thật cực nhọc nhưng có niềm khoái lạc
    sâu xa khi cảm thấy mỗi động tác của ta ngày càng nhẹ nhàng và đưa ta lướt tới nhanh chóng hơn,
    nhanh hơn nữa, cho tới lúc như mê đi, và khối nước nặng như chì trở thành một chất lỏng nhẹ bổng.
    Từ ấy tôi lẻn trở lai biển một mình, một khoái lạc tội lỗi, đáp lại sự mời mọc của những ngọn sóng
    hùng vĩ ào ạt đổ vào bờ để rồi lại khiêm tốn lăn tăn chạy đến với tôi, những vòng tay dịu dàng choàng
    lấy thằng bé ấn Độ tự nguyện đến với chúng.
    Món quà tôi tặng Mamaji một dịp sinh nhật, lúc đó chắc tôi mười ba mười bốn tuổi gìđó, là 2
    vòng bơi buớm hoàn chỉnh. Tôi đến đích mệt đến nổi không giơ nổi tay để chào vẫy ông nữa.
    Bên cạnh việc bơi lội còn có việc nói về nó nữa. Cha tôi rất ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN VỚI WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS VÀ THPT BÌNH ĐỘ - LẠNG SƠN!

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    "Những gì sách dạy chúng ta cũng giống như lửa. Chúng ta lấy nó từ nhà hàng xóm, thắp nó trong nhà ra, đem nó truyền cho người khác và nó trở thành tài sản của tất cả mọi người.” - Voltaire